1. Tiền lương là gì?
Tiền lương (payroll vietnam) là sự trả công hoặc thu nhập mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy Quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo hợp đồng lao động cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm (Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO))
Để hiểu rõ về tiền lương thì chúng ta phải nắm rõ Bản chất của tiền lương: bản chất của tiền lương chính là giá cả sức lao động, được xác định dựa trên cơ sở giá trị của sức lao động đã hao phí để sản xuất ra của cải vật chất, được người lao động và người sử dụng lao động thoả thuận với nhau, mặt khác tiền lương (vietnam payroll) còn là đòn bẩy kinh tế để khuyến khích tinh thần hăng say lao động.
2. Ý nghĩa của tiền lương là gì?
Tiền lương là khoản thu nhập đối với mỗi người lao động và nó có ý nghĩa hết sức quan trọng, ngoài đảm báo tái sản xuất sức lao động, nó còn kích thích người lao động yêu nghề, tận tâm với công việc, hăng hái tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Tiền lương là yếu tố cơ bản để quyết định thu nhập tăng hay giảm của người lao động, quyết định mức sống vật chất của người lao động trong doanh nghiệp. Vì vậy, trả lương một cách công bằng chính xác, đảm bảo quyền lợi cho người lao động thì mới tạo ra sự kích thích, sự quan tâm đúng đắn của người lao động đến kết quả cuối cùng của doanh nghiệp. Mặt khác, ý nghĩa tiền lương (vietnam payroll) là một trong những chi phí của doanh nghiệp hơn nữa lại là chi phí chiếm tỉ lệ đáng kể.
Thứ Ba, 28 tháng 5, 2019
Thứ Hai, 27 tháng 5, 2019
Hướng dẫn cách tính lương Việt Nam
Căn cứ để tính lương (payroll vietnam), làm bảng lương đó chính là Hợp đồng lao động, bảng chấm công, phiếu xác nhận sản phẩm, công việc được hoàn thành…
– Lương cơ bản: là lương thỏa thuận của giám đốc với người lao động, lương này dùng để đóng bảo hiểm, và để tính các khoản trích bảo hiểm theo lương. Cách tính lương cơ bản như sau: Đối với các doanh nghiệp căn cứ để tính lương (vietnam payroll) cơ bản chính là mức lương tối thiểu vùng được quy định nghị định 182/2013/NĐ-CP.Ví dụ ở vùng 1 đang là 2.7tr. Nhưng đối với những người đã từng đào tạo qua từ cấp nghề trở lên phải được cộng thêm 7% mức lương tối thiểu vùng nữa. Ví dụ bạn ở Hà Nội, bạn đã được đào tạo qua Trung cấp thì mức lương cơ bản thấp nhất mà doanh nghiệp trả cho bạn là: 2.700.000 + 7% x 2.700.000 = 2.889.000.
– Lương công việc: là lương bao gồm lương (vietnam payroll) cơ bản và cộng thêm các khoản phụ cấp như: phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp năng lực, thâm niên, thu hút… Các khoản phụ cấp này phải được thể hiện trên hợp đồng lao động hoặc trong quy chế lương thưởng của công ty thì mới được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN.
– Ngày công thực tế: là số ngày bạn đi làm trong tháng, dựa vào bảng chấm công để các bạn lấy số liệu.
– Lương thực tế hay còn gọi là lương tháng.
Có 2 cách tính lương thực tế như sau:
Cách tính 1:
Lương thực tế = Lương công việc / ngày công chuẩn của tháng X số ngày làm việc thực tế
Cách tính 2:
Lương thực tế = Lương công việc / 26 X ngày công thực tế làm việc
(Việc để 26 hay 24 ngày là do doanh nghiệp quy định)
Việc lựa chọn cách tính lương thực tế theo cách tính 1 hay cách tính 2 là do doanh nghiệp tự quyết định lựa chọn.
Lưu ý 2 cách tính lương này sẽ cho ra kết quả lương khác nhau trong từng trường hợp cụ thể.
– Lương cơ bản: là lương thỏa thuận của giám đốc với người lao động, lương này dùng để đóng bảo hiểm, và để tính các khoản trích bảo hiểm theo lương. Cách tính lương cơ bản như sau: Đối với các doanh nghiệp căn cứ để tính lương (vietnam payroll) cơ bản chính là mức lương tối thiểu vùng được quy định nghị định 182/2013/NĐ-CP.Ví dụ ở vùng 1 đang là 2.7tr. Nhưng đối với những người đã từng đào tạo qua từ cấp nghề trở lên phải được cộng thêm 7% mức lương tối thiểu vùng nữa. Ví dụ bạn ở Hà Nội, bạn đã được đào tạo qua Trung cấp thì mức lương cơ bản thấp nhất mà doanh nghiệp trả cho bạn là: 2.700.000 + 7% x 2.700.000 = 2.889.000.
– Lương công việc: là lương bao gồm lương (vietnam payroll) cơ bản và cộng thêm các khoản phụ cấp như: phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp năng lực, thâm niên, thu hút… Các khoản phụ cấp này phải được thể hiện trên hợp đồng lao động hoặc trong quy chế lương thưởng của công ty thì mới được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN.
– Ngày công thực tế: là số ngày bạn đi làm trong tháng, dựa vào bảng chấm công để các bạn lấy số liệu.
– Lương thực tế hay còn gọi là lương tháng.
Có 2 cách tính lương thực tế như sau:
Cách tính 1:
Lương thực tế = Lương công việc / ngày công chuẩn của tháng X số ngày làm việc thực tế
Cách tính 2:
Lương thực tế = Lương công việc / 26 X ngày công thực tế làm việc
(Việc để 26 hay 24 ngày là do doanh nghiệp quy định)
Việc lựa chọn cách tính lương thực tế theo cách tính 1 hay cách tính 2 là do doanh nghiệp tự quyết định lựa chọn.
Lưu ý 2 cách tính lương này sẽ cho ra kết quả lương khác nhau trong từng trường hợp cụ thể.
Thứ Ba, 21 tháng 5, 2019
Thị trường logistics đang thiếu 2 triệu nhân lực
Thống kê của Hiệp hội Doanh nghiệp Logistics Việt Nam VLA cho thấy, hiện Việt Nam có khoảng trên 30.000 doanh nghiệp logistics đang hoạt động, bao gồm cả doanh nghiệp có vốn nước ngoài. Về nguồn nhân lực cho ngành, ông Lê Duy Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp logistics (công ty cung cấp nhân sự) Việt Nam cho biết, tuy khoảng 30.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics, trong đó có khoảng 4.000 doanh nghiệp hoạt động vận chuyển hàng hóa nội địa và quốc tế. 1% doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, 10% doanh nghiệp là liên doanh, còn lại 89% doanh nghiệp Việt Nam thuần túy. Các công ty logistics (cong ty cung ung nhan su) nước ngoài và liên doanh tuy chiếm số lượng ít nhưng nhưng lại chiếm 80% thị phần. Còn lại 89% doanh nghiệp logistics nội địa của Việt Nam chỉ chiếm khoảng 20% thị phần.
Thống kê cũng cho thấy, cộng đồng doanh nghiệp logistics Việt Nam chiếm gần 90% tổng số doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics tại Việt Nam, song hầu hết chỉ làm dịch vụ các chuỗi cung ứng nhỏ trong lãnh thổ Việt Nam với một số phân khúc như: Dịch vụ giao nhận, cho thuê kho bãi, làm thủ tục hải quan, gom hàng lẻ và thị phần tại các cảng…
Trong khi đó, các hoạt động lớn hơn, mang tính liên vận quốc tế đều do thiểu số các công ty, tập đoàn đa quốc gia đảm trách. Ông Lê Duy Hiệp cho rằng: Về vận tải biển quốc tế, vận tải hàng không quốc tế và các dịch vụ bên ngoài Việt Nam đang hạn chế, vì chúng ta thiếu hệ thống chung trên toàn thế giới. Nhiều doanh nghiệp toàn cầu (công ty cung ứng nhân sự) có tên tuổi đã hơn 100 năm nay, nên họ có xuất phát điểm tốt hơn chúng ta.
Nguyên nhân được ông Trần Chí Dũng, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Logistics Việt Nam (VLI), lý giải là do Việt Nam thiếu hụt nguồn nhân lực logistics và phần lớn chưa qua đào tạo nên mức độ chuyên nghiệp còn kém. Các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ, nguồn nhân lực của các doanh nghiệp này hiện rất thiếu và yếu. Con số nhân lực thiếu được Hiệp hội logistic tính ra khoảng 2 triệu nhân lực.
Quy mô nhân lực của các doanh nghiệp logistics rất đáng e ngại. Với hơn 30.000 doanh nghiệp đang hoạt động trên cả nước, nhưng có đến 32,4% doanh nghiệp có dưới 50 nhân viên, khoảng 18,9% doanh nghiệp có từ 50-100 lao động, chỉ 10,8% doanh nghiệp có từ 1.000 lao động trở lên.
Thống kê cũng cho thấy, cộng đồng doanh nghiệp logistics Việt Nam chiếm gần 90% tổng số doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics tại Việt Nam, song hầu hết chỉ làm dịch vụ các chuỗi cung ứng nhỏ trong lãnh thổ Việt Nam với một số phân khúc như: Dịch vụ giao nhận, cho thuê kho bãi, làm thủ tục hải quan, gom hàng lẻ và thị phần tại các cảng…
Trong khi đó, các hoạt động lớn hơn, mang tính liên vận quốc tế đều do thiểu số các công ty, tập đoàn đa quốc gia đảm trách. Ông Lê Duy Hiệp cho rằng: Về vận tải biển quốc tế, vận tải hàng không quốc tế và các dịch vụ bên ngoài Việt Nam đang hạn chế, vì chúng ta thiếu hệ thống chung trên toàn thế giới. Nhiều doanh nghiệp toàn cầu (công ty cung ứng nhân sự) có tên tuổi đã hơn 100 năm nay, nên họ có xuất phát điểm tốt hơn chúng ta.
Nguyên nhân được ông Trần Chí Dũng, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Logistics Việt Nam (VLI), lý giải là do Việt Nam thiếu hụt nguồn nhân lực logistics và phần lớn chưa qua đào tạo nên mức độ chuyên nghiệp còn kém. Các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ, nguồn nhân lực của các doanh nghiệp này hiện rất thiếu và yếu. Con số nhân lực thiếu được Hiệp hội logistic tính ra khoảng 2 triệu nhân lực.
Quy mô nhân lực của các doanh nghiệp logistics rất đáng e ngại. Với hơn 30.000 doanh nghiệp đang hoạt động trên cả nước, nhưng có đến 32,4% doanh nghiệp có dưới 50 nhân viên, khoảng 18,9% doanh nghiệp có từ 50-100 lao động, chỉ 10,8% doanh nghiệp có từ 1.000 lao động trở lên.
Hướng dẫn cách tính lương làm cho nhân viên
Tiền lương thời gian được tính (payroll vietnam) căn cứ vào thời gian làm việc và bậc lương, thang lương của người lao động.
Tiền lương phải trả theo thời gian = thời gian làm việc x mức tiền lương thời gian.
Tuỳ theo yêu cầu và trình độ quản lý mà doanh nghiệp có thể tính mức lương (vietnam payroll) thời gian theo mức lương tháng, lương ngày, lương giờ, lương công nhật.
Mức lương tháng là số tiền lương đã quy định sẵn đối với từng bậc lương ở các thang lương trả cho người lao động hàng tháng.
Mức lương tháng thường được áp dụng để trả lương cho lao động gián tiếp, mức lương tháng gồm: lương cấp bậc (chức vụ) và phụ cấp khu vực (nếu có).
Trong các doanh nghiệp Nhà nước, thông thường Nhà nước chỉ huy định mức lương tối thiểu, còn các mức lương cao hơn được xác định theo hệ số cấp bậc lương.
Mức lương tháng
Mức lương ngày =______________________
26 ngày
Tiền lương ngày là tiền lương trả cho một ngày làm việc và được xác định (vietnam payroll) bằng cách lấy tiền lương tháng chia cho số ngày làm việc trong tháng theo chế độ.
Mức lương ngày
Mức lương giờ =________________________
8 giờ
Tiền lương phải trả theo thời gian = thời gian làm việc x mức tiền lương thời gian.
Tuỳ theo yêu cầu và trình độ quản lý mà doanh nghiệp có thể tính mức lương (vietnam payroll) thời gian theo mức lương tháng, lương ngày, lương giờ, lương công nhật.
Mức lương tháng là số tiền lương đã quy định sẵn đối với từng bậc lương ở các thang lương trả cho người lao động hàng tháng.
Mức lương tháng thường được áp dụng để trả lương cho lao động gián tiếp, mức lương tháng gồm: lương cấp bậc (chức vụ) và phụ cấp khu vực (nếu có).
Trong các doanh nghiệp Nhà nước, thông thường Nhà nước chỉ huy định mức lương tối thiểu, còn các mức lương cao hơn được xác định theo hệ số cấp bậc lương.
Mức lương tháng
Mức lương ngày =______________________
26 ngày
Tiền lương ngày là tiền lương trả cho một ngày làm việc và được xác định (vietnam payroll) bằng cách lấy tiền lương tháng chia cho số ngày làm việc trong tháng theo chế độ.
Mức lương ngày
Mức lương giờ =________________________
8 giờ
Thứ Năm, 16 tháng 5, 2019
100 nhà tuyển dụng được yêu thích nhất năm 2018 gồm những ai?
Cơ sở cho công bố này là chương trình khảo sát thường niên được tổ chức trực tuyến từ ngày 25/12/2018 – 31/01/2019. Với sự bảo trợ phương pháp luận từ đơn vị nghiên cứu thị trường Insight Asia, khảo sát “Nhà tuyển dụng yêu thích 2018” đã ghi nhận ý kiến đóng góp khách quan của 17.498 đáp viên từ khắp ba miền và đang công tác tại nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Khảo sát năm nay còn nhận được sự đồng hành từ các headhunter company in vietnam lớn trong vai trò Nhà tài trợ đồng hành cùng chương trình như Dale Carnegie, Highlands Coffee, QSR, Jotun và SHB Finance để gửi tặng đến người tham gia may mắn ngẫu nhiên 1.000 hộp quà cực chất với trị giá lên đến hơn 14 triệu đồng cho phần quà cao nhất.
Sau khi sàng lọc, phân tích các dữ liệu nhận được theo phương pháp luận khoa học để đảm bảo tính trung thực của khảo sát, báo cáo chi tiết với nhiều phân tích chuyên sâu và có giá trị dành cho cả ứng viên và các doanh nghiệp (headhunter company in vietnam) cũng đã được công bố kèm theo để làm nguồn tham khảo đáng tin cậy cho các vấn đề về nguồn nhân lực cũng như kỳ vọng nghề nghiệp của người lao động.Được thực hiện từ năm 2013 với định vị ngay từ khởi đầu là một dự án độc lập, minh bạch và hoàn toàn phi lợi nhuận, khảo sát “Nhà tuyển dụng yêu thích 2018” vẫn duy trì mô hình thực hiện trên diện rộng và đánh giá qua nhiều tiêu chí chọn lọc trên gần 200 doanh nghiệp thuộc nhiều nhóm ngành nghề đa dạng như Ngân hàng – Tài chính, Bán sỉ/ Bán lẻ, Kỹ thuật - Công nghệ, Xây dựng - Bất động sản, Sản xuất, Hàng tiêu dùng nhanh và nhiều nhóm ngành khác. Kết quả khảo sát năm nay đã phản ánh một số thay đổi và xu hướng lựa chọn nghề nghiệp tích cực từ người lao động như việc ứng viên không còn chỉ tập trung vào yếu tố lương thưởng khi chọn việc mà bắt đầu tìm kiếm nhiều giá trị lâu dài khác ở một doanh nghiệp (headhunter vietnam) tốt như tầm nhìn lãnh đạo, môi trường làm việc đa dạng, không phân biệt đối xử hay quy trình làm việc hiệu quả. Văn hoá công ty và cơ hội phát triển nghề nghiệp đang được người lao động đánh giá là những yếu tố cần phải đưa lên bàn cân khi tìm kiếm công việc mơ ước nếu muốn gắn bó và làm việc trong một môi trường hạnh phúc.
Sau khi sàng lọc, phân tích các dữ liệu nhận được theo phương pháp luận khoa học để đảm bảo tính trung thực của khảo sát, báo cáo chi tiết với nhiều phân tích chuyên sâu và có giá trị dành cho cả ứng viên và các doanh nghiệp (headhunter company in vietnam) cũng đã được công bố kèm theo để làm nguồn tham khảo đáng tin cậy cho các vấn đề về nguồn nhân lực cũng như kỳ vọng nghề nghiệp của người lao động.Được thực hiện từ năm 2013 với định vị ngay từ khởi đầu là một dự án độc lập, minh bạch và hoàn toàn phi lợi nhuận, khảo sát “Nhà tuyển dụng yêu thích 2018” vẫn duy trì mô hình thực hiện trên diện rộng và đánh giá qua nhiều tiêu chí chọn lọc trên gần 200 doanh nghiệp thuộc nhiều nhóm ngành nghề đa dạng như Ngân hàng – Tài chính, Bán sỉ/ Bán lẻ, Kỹ thuật - Công nghệ, Xây dựng - Bất động sản, Sản xuất, Hàng tiêu dùng nhanh và nhiều nhóm ngành khác. Kết quả khảo sát năm nay đã phản ánh một số thay đổi và xu hướng lựa chọn nghề nghiệp tích cực từ người lao động như việc ứng viên không còn chỉ tập trung vào yếu tố lương thưởng khi chọn việc mà bắt đầu tìm kiếm nhiều giá trị lâu dài khác ở một doanh nghiệp (headhunter vietnam) tốt như tầm nhìn lãnh đạo, môi trường làm việc đa dạng, không phân biệt đối xử hay quy trình làm việc hiệu quả. Văn hoá công ty và cơ hội phát triển nghề nghiệp đang được người lao động đánh giá là những yếu tố cần phải đưa lên bàn cân khi tìm kiếm công việc mơ ước nếu muốn gắn bó và làm việc trong một môi trường hạnh phúc.
Thứ Tư, 15 tháng 5, 2019
Nhu cầu tuyển dụng nhân sự cấp trung trong ngành Bán lẻ tăng cao
Khoảng từ tháng 3 năm 2019, hàng loạt các công ty trong lĩnh vực Bán lẻ tại khu vực phía Nam đẩy nhanh tiến độ tuyển dụng cho các vị trí cấp quản lý phục vụ nhu cầu mở rộng kinh doanh hoặc cơ cấu lại bộ máy nội bộ.
Từ tháng 3 năm nay, hàng loạt các cong ty nhan su trong lĩnh vực Bán lẻ tại khu vực phía Nam đẩy nhanh tiến độ tuyển dụng cho các vị trí cấp quản lý phục vụ nhu cầu mở rộng kinh doanh hoặc cơ cấu lại bộ máy nội bộ. Lĩnh vực dịch vụ ăn uống, giải trí với sự tham gia của các thương hiệu mới bên cạnh các chuỗi cửa hàng nhượng quyền thương hiệu càng khiến cho ngành này phát triển sôi động và còn hứa hẹn rất nhiều tiềm năng lớn để phát triển. Tuy nhiên, ứng viên trong ngành Bán lẻ ngày càng hạn hẹp do chất lượng ứng viên không thực sự đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng của thị trường. Chính vì vậy, “cơn khát” ứng viên trong ngành Bán lẻ đang tăng cao và dự báo trong quý 2 vẫn tiếp tục tăng.
Trong quý 1, các doanh nghiệp Bán lẻ và Thời trang tại khu vực phía Bắc có xu hướng mở rộng kinh doanh theo hình thức thương mại điện tử. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp trong lĩnh vực thời trang có xu hướng đầu tư nhiều vào bộ phận R&D (Nghiên cứu và Phát triển) và Marketing để nắm bắt kịp thời xu hướng thời trang quốc tế để xây dựng chiến lược thương hiệu của riêng mình, do vậy nhiều vị trí tuyển dụng liên quan đến R&D, thiết kế thời trang, marketing, E-commerce và Online Sales đang được yêu cầu tìm kiếm ứng viên.
Theo thống kê của Navigos Search trong quý 1 năm nay, dịch vụ tuyển dụng nhân sự đến từ ngành Sản xuất đứng đầu, chiếm 40% nhu cầu tuyển dụng của các khách hàng tại Navigos Search. Xét ở mặt vĩ mô, sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mức 13,56% trong quý đã góp phần tạo nên sự khởi sắc của ngành sản xuất.
Ở góc độ tuyển dụng, việc làm trong ngành sản xuất hiện đang được đánh giá là rất dồi dào cho tất cả các cấp, từ công nhân, kỹ sư đến các nhân sự cấp quản lý. Ở khu vực phía Bắc, các khu công nghiệp thuộc tỉnh Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Phòng, Phú Thọ… luôn phải đối mặt với việc thiếu hụt lực lượng lao động khi các khu vực này liên tục có xây dựng nhà máy mới từ các nhà đầu tư nước ngoài.
Trong lĩnh vực điện, điện tử, các doanh nghiệp FDI có nhu cầu mở rộng nhà máy, đặc biệt là các doanh nghiệp Hàn Quốc với quy mô mở rộng rất lớn đến hơn 10 ngàn người. Do đó các doanh nghiệp này thường xuyên thiếu hụt lao động và phải mở rộng tìm kiếm nhân sự tại các tỉnh khác nhau tại khu vực phía Bắc.
Dịch vụ tuyển dụng nhân sự trong mảng sản xuất tại khu vực phía Nam cũng tăng trưởng cao, đồng thời một số các doanh nghiệp sẵn sàng mở rộng cho cả nguồn ứng viên nước ngoài đối với các vị trí quản lý cấp cao.
Từ tháng 3 năm nay, hàng loạt các cong ty nhan su trong lĩnh vực Bán lẻ tại khu vực phía Nam đẩy nhanh tiến độ tuyển dụng cho các vị trí cấp quản lý phục vụ nhu cầu mở rộng kinh doanh hoặc cơ cấu lại bộ máy nội bộ. Lĩnh vực dịch vụ ăn uống, giải trí với sự tham gia của các thương hiệu mới bên cạnh các chuỗi cửa hàng nhượng quyền thương hiệu càng khiến cho ngành này phát triển sôi động và còn hứa hẹn rất nhiều tiềm năng lớn để phát triển. Tuy nhiên, ứng viên trong ngành Bán lẻ ngày càng hạn hẹp do chất lượng ứng viên không thực sự đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng của thị trường. Chính vì vậy, “cơn khát” ứng viên trong ngành Bán lẻ đang tăng cao và dự báo trong quý 2 vẫn tiếp tục tăng.
Trong quý 1, các doanh nghiệp Bán lẻ và Thời trang tại khu vực phía Bắc có xu hướng mở rộng kinh doanh theo hình thức thương mại điện tử. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp trong lĩnh vực thời trang có xu hướng đầu tư nhiều vào bộ phận R&D (Nghiên cứu và Phát triển) và Marketing để nắm bắt kịp thời xu hướng thời trang quốc tế để xây dựng chiến lược thương hiệu của riêng mình, do vậy nhiều vị trí tuyển dụng liên quan đến R&D, thiết kế thời trang, marketing, E-commerce và Online Sales đang được yêu cầu tìm kiếm ứng viên.
Theo thống kê của Navigos Search trong quý 1 năm nay, dịch vụ tuyển dụng nhân sự đến từ ngành Sản xuất đứng đầu, chiếm 40% nhu cầu tuyển dụng của các khách hàng tại Navigos Search. Xét ở mặt vĩ mô, sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mức 13,56% trong quý đã góp phần tạo nên sự khởi sắc của ngành sản xuất.
Ở góc độ tuyển dụng, việc làm trong ngành sản xuất hiện đang được đánh giá là rất dồi dào cho tất cả các cấp, từ công nhân, kỹ sư đến các nhân sự cấp quản lý. Ở khu vực phía Bắc, các khu công nghiệp thuộc tỉnh Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Phòng, Phú Thọ… luôn phải đối mặt với việc thiếu hụt lực lượng lao động khi các khu vực này liên tục có xây dựng nhà máy mới từ các nhà đầu tư nước ngoài.
Trong lĩnh vực điện, điện tử, các doanh nghiệp FDI có nhu cầu mở rộng nhà máy, đặc biệt là các doanh nghiệp Hàn Quốc với quy mô mở rộng rất lớn đến hơn 10 ngàn người. Do đó các doanh nghiệp này thường xuyên thiếu hụt lao động và phải mở rộng tìm kiếm nhân sự tại các tỉnh khác nhau tại khu vực phía Bắc.
Dịch vụ tuyển dụng nhân sự trong mảng sản xuất tại khu vực phía Nam cũng tăng trưởng cao, đồng thời một số các doanh nghiệp sẵn sàng mở rộng cho cả nguồn ứng viên nước ngoài đối với các vị trí quản lý cấp cao.
Thị trường logistics đang thiếu 2 triệu nhân lực
Thống kê của Hiệp hội Doanh nghiệp Logistics Việt Nam VLA cho thấy, hiện Việt Nam có khoảng trên 30.000 doanh nghiệp logistics đang hoạt động, bao gồm cả doanh nghiệp có vốn nước ngoài. Về nguồn nhân lực cho ngành, ông Lê Duy Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp logistics (công ty cung cấp nhân sự) Việt Nam cho biết, tuy khoảng 30.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics, trong đó có khoảng 4.000 doanh nghiệp hoạt động vận chuyển hàng hóa nội địa và quốc tế. 1% doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, 10% doanh nghiệp là liên doanh, còn lại 89% doanh nghiệp Việt Nam thuần túy. Các công ty logistics (cong ty cung ung nhan su) nước ngoài và liên doanh tuy chiếm số lượng ít nhưng nhưng lại chiếm 80% thị phần. Còn lại 89% doanh nghiệp logistics nội địa của Việt Nam chỉ chiếm khoảng 20% thị phần.
Thống kê cũng cho thấy, cộng đồng doanh nghiệp logistics Việt Nam chiếm gần 90% tổng số doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics tại Việt Nam, song hầu hết chỉ làm dịch vụ các chuỗi cung ứng nhỏ trong lãnh thổ Việt Nam với một số phân khúc như: Dịch vụ giao nhận, cho thuê kho bãi, làm thủ tục hải quan, gom hàng lẻ và thị phần tại các cảng…
Trong khi đó, các hoạt động lớn hơn, mang tính liên vận quốc tế đều do thiểu số các công ty, tập đoàn đa quốc gia đảm trách. Ông Lê Duy Hiệp cho rằng: Về vận tải biển quốc tế, vận tải hàng không quốc tế và các dịch vụ bên ngoài Việt Nam đang hạn chế, vì chúng ta thiếu hệ thống chung trên toàn thế giới. Nhiều doanh nghiệp toàn cầu (công ty cung ứng nhân sự) có tên tuổi đã hơn 100 năm nay, nên họ có xuất phát điểm tốt hơn chúng ta.
Nguyên nhân được ông Trần Chí Dũng, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Logistics Việt Nam (VLI), lý giải là do Việt Nam thiếu hụt nguồn nhân lực logistics và phần lớn chưa qua đào tạo nên mức độ chuyên nghiệp còn kém. Các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ, nguồn nhân lực của các doanh nghiệp này hiện rất thiếu và yếu. Con số nhân lực thiếu được Hiệp hội logistic tính ra khoảng 2 triệu nhân lực.
Quy mô nhân lực của các doanh nghiệp logistics rất đáng e ngại. Với hơn 30.000 doanh nghiệp đang hoạt động trên cả nước, nhưng có đến 32,4% doanh nghiệp có dưới 50 nhân viên, khoảng 18,9% doanh nghiệp có từ 50-100 lao động, chỉ 10,8% doanh nghiệp có từ 1.000 lao động trở lên.
Thống kê cũng cho thấy, cộng đồng doanh nghiệp logistics Việt Nam chiếm gần 90% tổng số doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics tại Việt Nam, song hầu hết chỉ làm dịch vụ các chuỗi cung ứng nhỏ trong lãnh thổ Việt Nam với một số phân khúc như: Dịch vụ giao nhận, cho thuê kho bãi, làm thủ tục hải quan, gom hàng lẻ và thị phần tại các cảng…
Trong khi đó, các hoạt động lớn hơn, mang tính liên vận quốc tế đều do thiểu số các công ty, tập đoàn đa quốc gia đảm trách. Ông Lê Duy Hiệp cho rằng: Về vận tải biển quốc tế, vận tải hàng không quốc tế và các dịch vụ bên ngoài Việt Nam đang hạn chế, vì chúng ta thiếu hệ thống chung trên toàn thế giới. Nhiều doanh nghiệp toàn cầu (công ty cung ứng nhân sự) có tên tuổi đã hơn 100 năm nay, nên họ có xuất phát điểm tốt hơn chúng ta.
Nguyên nhân được ông Trần Chí Dũng, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Logistics Việt Nam (VLI), lý giải là do Việt Nam thiếu hụt nguồn nhân lực logistics và phần lớn chưa qua đào tạo nên mức độ chuyên nghiệp còn kém. Các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ, nguồn nhân lực của các doanh nghiệp này hiện rất thiếu và yếu. Con số nhân lực thiếu được Hiệp hội logistic tính ra khoảng 2 triệu nhân lực.
Quy mô nhân lực của các doanh nghiệp logistics rất đáng e ngại. Với hơn 30.000 doanh nghiệp đang hoạt động trên cả nước, nhưng có đến 32,4% doanh nghiệp có dưới 50 nhân viên, khoảng 18,9% doanh nghiệp có từ 50-100 lao động, chỉ 10,8% doanh nghiệp có từ 1.000 lao động trở lên.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)